Thực trạng phát triển và xu hướng Logistics tại Việt Nam

Vận Tải Miền Trung
02/11/2025
Tin tức vận tải, Blog vận tải

Ngành Logistics tại Việt Nam đang có những phát triển lớn trong những năm gần đây, nhưng làm thế nào để có những hướng phát triển đúng đắn để lĩnh vực Logistics Việt Nam cạnh tranh sòng phẳng với các doanh nghiệp Logistics trên thế giới? Mời các bạn tham khảo bài viết dưới đây.

Tóm tắt

Thực trạng ngành Logistics tại Việt Nam hiện nay

Bắt đầu từ năm 1900, khái niệm logistics lần đầu xuất hiện ở thị trường Việt Nam.  Trải qua 30 năm phát triển, thực trạng logistics nội địa Việt Nam hiện nay đã có nhiều cải thiện đáng kể. Mặc dù còn nhiều tồn đọng nhưng đã dần đáp ứng được nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, góp phần không nhỏ trong phát triển kinh tế xã hội.

Số lượng doanh nghiệp tham gia dịch vụ logistics ngày càng nhiều

Theo thống kê, hiện nay trên cả nước có gần 1000 doanh nghiệp cung ứng dịch vụ logistics. Đây là một con số khá ấn tượng và các doanh nghiệp mới vẫn không ngừng được thành lập.

Tuy nhiên, có một thực trạng là đa phần các công ty logistics này đều hoạt động với quy mô nhỏ lẻ. Số lượng doanh nghiệp làm đại lý cho các tập đoàn logistics từ nước ngoài là rất nhiều. Hơn nữa, với hoạt động sản xuất kinh doanh và thương mại ở 63 tỉnh thành, thì con số này vẫn chưa đủ để đáp ứng được nhu cầu thị trường.

Số lượng doanh nghiệp tham gia dịch vụ logistics ngày càng nhiều
Việt Nam có gần 1000 công ty hoạt động trong lĩnh vực cung ứng Logistics

Có một thực trạng logistics nội địa Việt Nam hiện nay mà chúng ta phải công nhận. Đó là các công ty logistics quốc tế đã vào Việt Nam và giành được thị phần khá lớn. Hiện tại, APL, Mitsui OSK, Maerk Logistics, NYK Logistics đều là những tập đoàn hùng mạnh với sức cạnh tranh lớn và khả năng chiếm lĩnh thị trường Logistics cao. Đây sẽ là một thách thức không nhỏ với các doanh nghiệp logistics Việt.

Phạm vi hoạt động ngày càng được mở rộng

Điều đáng mừng của logistics Việt Nam chính là hiện nay phạm vi hoạt động của các công ty đã được mở rộng. Không chỉ phục vụ nhu cầu nội địa mà còn đáp ứng cho các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á.

Dĩ nhiên so với các tập đoàn logistics nước ngoài thì điều này vẫn chưa nói lên được điều gì, tuy nhiên nó cho thấy một tín hiệu khả thi về sự phát triển trong tương lai. Còn thực trạng hiện tại, thì quá trình kinh doanh xuyên quốc gia khá lỏng lẻo và rời rạc.

Tính cạnh tranh trong lĩnh vực logistics Việt Nam

Về vấn đề này, chúng ta sẽ xét trên hai khía cạnh: logistics phục vụ xuất khẩu và logistics phục vụ nhập khẩu.

Xét về xuất khẩu, đa phần các doanh nghiệp Việt đều xuất khẩu theo dạng FOB, FCA. Vì vậy, các doanh nghiệp nhập khẩu sẽ chỉ định một công ty logistics nước họ để đảm nhiệm dịch vụ. Các doanh nghiệp Việt gần như không có chỗ chen chân.

Tính cạnh tranh trong ngành logistics Việt Nam
Logistics Việt Nam khó cạnh tranh trong lĩnh vực xuất khẩu hàng hóa

Ở khâu nhập khẩu, Việt Nam là nước nhập siêu nên đây cũng là thị trường hấp dẫn cho các đơn vị dịch vụ logistics. Họ có thể tận dụng điều này để khai thác triệt để nhu cầu doanh nghiệp. Tuy nhiên, thị trường này vẫn bị chiếm lĩnh bởi các ông lớn và các đơn vị nhỏ lẻ vẫn chưa thực hiện được chuỗi cung ứng hoàn hảo nên tính cạnh tranh cũng không cao.

Cơ sở hạ tầng tại Việt Nam

Hạ tầng là một vấn đề nan giải của ngành logistics Việt Nam. Đa phần cảng biển Việt Nam không được thiết kế để phục vụ bốc dỡ hàng hóa tàu biển chuyên dụng. Chỉ số ít cảng có kết nối quốc tế với các cảng biển Châu Âu hoặc Mỹ. Hệ thống sân bay cũng thiếu phương tiện bốc dỡ hàng hóa. Hệ thống kho bãi chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế. Nhiều kho bãi còn xuống cấp trầm trọng.

Hạ tầng yếu kém dẫn đến hiệu quả logistics không cao
Hạ tầng yếu kém dẫn đến hiệu quả logistics không cao

Hạ tầng là một thách thức lớn cho ngành logistics tại Việt Nam. Thực trạng cho thấy chúng ta còn quá yếu kém về quản lý cơ sở hạ tầng. Kể cả tại khu vực phía Nam mà TP. Hồ Chí Minh là điển hình, thì tình hình vẫn không khả quan. Hàng hóa bị ùn ứ tại đây rất nhiều vẫn chưa có cách để xử lý ổn thỏa và triệt để nhất.

Hạ tầng yếu kém là một trong những nguyên nhân khiến hàng hóa bị tồn đọng. Thời gian thực hiện chuỗi cung ứng bị kéo dài. Điều này làm giá hàng hóa tăng cao, và làm chậm quá trình tăng trưởng kinh tế, ảnh hưởng không nhỏ đến sức mua của người dùng.

Chi phí dịch vụ vẫn ở mức cao cần được cải thiện

Khi nhìn nhận thực trạng logistics Việt Nam hiện nay ở mảng chi phí, điều chúng ta dễ dàng nhận thấy được là mức chi phí rất cao. Chi phí cao làm giảm hiệu quả của thị trường giá rẻ, vốn là điểm mạnh của nền kinh tế Việt. Nhu cầu lớn, nhưng tổng GDP đóng góp chỉ đạt mức 4.4%.

Bên cạnh đó, các công ty logistics chỉ phục vụ được khoang 25% nhu cầu logistics trong nước. Nhu cầu tăng nhưng chi phí cao, nguyên nhân chủ yếu chính là khâu quản lý hành chính và hạ tầng quá phức tạp, kém cỏi.

Ứng dụng công nghệ thông tin còn yếu

Đây là điểm yếu rõ rệt nhất của ngành logistics tại Việt Nam. Dĩ nhiên các công ty Việt cũng đã ý thức được tầm quan trọng của CNTT với sự phát triển của ngành. Tuy nhiên mức độ áp dụng vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng của khách hàng.

Đơn cử như mảng website, đa phần đều là giới thiệu dịch vụ, chưa có được các tính năng theo dõi đơn hàng, lịch tàu, booking… Trong khi đây là những gì khách hàng đang cần. Vì vậy, để tồn tại và phát triển trong bối cảnh thời đại công nghệ 4.0, cuộc chạy đua CNTT là rất cần thiết.

Ứng dụng công nghệ thông tin còn yếu
Bảng đo lường hiệu quả ứng dụng CNTT trong ngành Logistics tại Việt Nam

Quản lý nhà nước với lĩnh vực logistics tại Việt Nam

Logistics tại Việt Nam chỉ được công nhận là hành vi thương mại trong Luật thương mại 2006. Trong khi đó nó đã có mặt từ năm 1990. Sự chậm trễ trong việc ban hành các điều luật hỗ trợ phát triển làm cho toàn bộ ngành logistics Việt Nam phát triển rời rạc, thiếu sự liên kết và các Hiệp hội logistics cũng hoạt động theo hình thức mà chưa thật sự quán triệt được tính liên kết cho toàn ngành.

So với một số nước, thì dịch vụ logistics Việt Nam vẫn khá ổn. Tuy nhiên nếu muốn phát triển và đáp ứng nhu cầu thị trường thì cần phải nỗ lực rất nhiều. Thực trạng Logistics tại Việt Nam hiện nay còn rất nhiều tồn đọng và lỗ hổng. Thị trường ngành này rất tiềm năng, nếu nhà nước không có các chính sách phù hợp, thì sẽ là cơ hội cho các nhà đầu tư nước ngoài khai thác. Trong khi đó, các công ty logistics Việt chỉ mãi dậm chân tại chỗ hoặc làm việc thuê cho họ mà thôi.

Sự phát triển của ngành Logistics tại Việt Nam

Phát triển về số lượng và loại hình dịch vụ logistics

Mở rộng chuỗi cung ứng dịch vụ trọn gói và đa dạng

Trong các mô hình logisitics, mô hình logistics bên thứ 3 – 3PL tiếp tục là phương thức cung cấp phổ biến nhất và có tầm ảnh hưởng quan trọng đến chuỗi cung ứng hàng hóa. Song số lượng doanh nghiệp cung cấp theo phương thức này chỉ chiếm khoảng 16% và chủ yếu là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Doanh nghiệp logistics nước ngoài hoạt động ở Việt Nam dưới nhiều hình thức, đặc biệt trong việc cung ứng dịch vụ 3PL với trình độ công nghệ hiện đại, chuyên nghiệp như tại các nước phát triển. Thậm chí, một số doanh nghiệp đang từng bước triển khai mô hình 4PL và 5 PL trên cơ sở phát triển thương mại điện tử và quản trị chuỗi cung ứng hiện đại, hiệu quả, chuyên nghiệp.

Phát triển về số lượng và loại hình dịch vụ logistics

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp logistics Việt Nam cũng không ngừng phát triển để cung cấp các dịch vụ logistics và quản lý chuỗi cung ứng trọn gói và đa dạng hơn. Từ chỗ đa số chỉ cung cấp được một số dịch vụ trong chuỗi logistics thì đến nay, doanh nghiệp logistics trong nước đã có được sự tin tưởng cao hơn của các doanh nghiệp chủ hàng. Theo thống kê của VLA, hiện có tới 52,8% doanh nghiệp chủ hàng lựa chọn các công ty logistics nội địa.

Trong hầu hết các lĩnh vực về khai thác cảng, kho bãi, vận tải đường bộ nội địa, vận tải đường thủy nội địa… doanh nghiệp trong nước đang chiếm ưu thế. Các doanh nghiệp Việt Nam sở hữu phần lớn kho bãi, nên doanh nghiệp nước ngoài phải thuê lại hoặc liên kết, liên doanh để phục vụ dịch vụ logistics.

Bên cạnh đó, các công ty lớn trong nước như Gemadept, Transimex, Vinatrans, … cũng đang hướng đến các dịch vụ logistics tích hợp trọn gói và đồng bộ, tổ chức hoạt động theo mô hình 3PL nhằm thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển thông qua tối ưu hóa chi phí và tăng giá trị gia tăng cho hàng hóa và dịch vụ của doanh nghiệp.

Phát triển cơ sở hạ tầng Logistics Việt Nam

Để tham gia mô hình 3PL, các doanh nghiệp trong nước có khuynh hướng đầu tư vào cơ sở hạ tầng logistics, đặc biệt là kho bãi hoặc các trung tâm phân phối logistics Việt Nam.

Tuy nhiên, các dịch vụ logistics chủ yếu mà doanh nghiệp trong nước cung ứng cho khách hàng vẫn là dịch vụ kho bãi, dịch vụ vận tải hàng hóa, giao nhận hàng hóa, bốc xếp, dịch vụ phân loại, đóng gói bao bì, lưu kho… còn các dịch vụ khác trong chuỗi dịch vụ logistisc mặc dù cũng có một số doanh nghiệp cung ứng nhưng số lượng không nhiều và chưa thực sự được quan tâm phát triển.

Phát triển cơ sở hạ tầng Logistics Việt Nam

Bên cạnh đó, một xu hướng là sự gia tăng mạnh mẽ của loại hình dịch vụ logistics phục vụ thương mại điện tử. Số lượng các công ty tham gia vào khâu giao hàng chặng cuối phục vụ cho thương mại điện tử tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là thương mại điện tử hàng rời, giá trị đa dạng và hàng ăn uống.

Nhìn chung, chất lượng dịch vụ logistics Việt Nam đang có sự chuyển biến đáng kể theo hướng tích cực trong vài năm trở lại đây, trong đó, cơ sở hạ tầng về thương mại – giao thông, viễn thông và công nghệ thông tin cũng như chất lượng dịch vụ logistics đến từ khu vực tư nhân đang được cải thiện nhanh chóng, rõ rệt.

Phát triển năng lực doanh nghiệp Logistics Việt Nam

Sự gia tăng của các doanh nghiệp Logistics nội địa nhỏ

Những năm gần đây, các ngành dịch vụ vận tải, kho bãi, giao nhận và dịch vụ liên quan khác đều có mức tăng trưởng khả quan. Tuy số lượng đông và có xu hướng tăng so với sự gia nhập của doanh nghiệp logistics nước ngoài, nhưng hầu như các doanh nghiệp logistisc Việt Nam vẫn là các doanh nghiệp nhỏ và vừa cả về vốn, lao động và công nghệ.

Tiềm lực tài chính của các doanh nghiệp logistics Việt Nam còn khiêm tốn (80% doanh nghiệp thành lập có vốn đăng ký từ 1,5 – 2 tỷ đồng). Bên cạnh vướng mắc về vốn, thì doanh nghiệp logistics Việt Nam còn thiếu kinh nghiệm, năng lực cạnh tranh hạn chế, nên chưa có cơ hội vươn ra thị trường có nhu cầu lớn. Thêm vào đó, thiếu sự liên kết đồng bộ giữa các doanh nghiệp, giữa các công đoạn khác nhau của hoạt động logistics.

Phát triển nguồn nhân lực Logistics Việt Nam

Ngoài ra, nguồn nhân lực cũng là một yếu tố trở ngại, bởi hầu hết nhân lực trong lĩnh vực logistics Việt Nam hiện nay đều được đào tạo từ các nguồn khác nhau, chưa được đào tạo chính quy, bài bản. Năng lực của các doanh nghiệp Logistics Việt Nam do vậy, bị hạn chế bởi chất lượng cán bộ không đáp ứng được nhu cầu.

Phát triển nguồn nhân lực ngành logistics

Trong số các doanh nghiệp trong nước, có tới 93 – 95% người lao động không được đào tạo chuyên lĩnh vực logistics, chủ yếu làm dịch vụ ở các chuỗi cung ứng nhỏ như giao nhận, kho bãi, xử lý vận đơn…

Quy mô nhân lực của các doanh nghiệp logistics Việt Nam khá nhỏ, doanh nghiệp có dưới 50 nhân viên chiếm tỷ lệ tới khoảng 32,4% và doanh nghiệp quy mô lớn (trên 1.000 nhân viên) chiếm tỷ lệ nhỏ chỉ khoảng 10,8%

Ứng dụng công nghệ cho Logistics

Doanh nghiệp Logistics Việt Nam chưa ứng dụng được công nghệ thông tin, dẫn đến sự thiếu chuyên nghiệp

Mặt khác, ngoài yếu tố quan trọng là con người, công nghệ là lợi thế cạnh tranh then chốt trong thị trường logistics đầy tiềm năng nhưng cũng đầy cạnh tranh này. Dịch vụ logistics theo hướng 3PL đã hiện diện và có nhiều tiềm năng phát triển tại Việt Nam.

Do đó, nếu chỉ cung cấp các dịch vụ kho vận đơn giản, thuần túy… mà không tích hợp chúng thành quá trình, chuỗi dịch vụ, người cung ứng dịch vụ khó có thể thỏa mãn khách hàng về mặt giảm chi phí cũng như tính đáp ứng nhanh (quick responsiveness).

Ứng dụng công nghệ cho ngành Logistics

Có thể thấy, ở Việt Nam, một trong những nguyên nhân khiến cho dịch vụ logistics của nhiều doanh nghiệp được cung cấp thiếu chuyên nghiệp là trình độ ứng dụng CNTT kém. Ứng dụng công nghệ trong thời đại cách mạng công nghiệp 4.0, khi lượng hàng hóa di chuyển lớn, nhu cầu về thời gian, cũng như đảm bảo an toàn và chất lượng của hàng hóa… vẫn chưa có nhiều doanh nghiệp đáp ứng được.

Xu hướng ứng dụng công nghệ trong chuỗi dịch vụ Logistics

Tuy nhiên, gần đây, ngành logistics Việt Nam đã bắt đầu đạt được một dấu mốc quan trọng trong hiện đại hóa. Đổi mới và đầu tư công nghệ đang thực sự bắt đầu định hình các doanh nghiệp logistics, trở thành xu thế tất yếu của thị trường logistics. Công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics, được xem như huyết mạch kết nối các thành phần của toàn bộ chuỗi dịch vụ logistics

Các doanh nghiệp logistics mới sử dụng công nghệ để nâng cao khía cạnh dịch vụ của doanh nghiệp. Trong khi các doanh nghiệp logistics truyền thống đang hiện đại hóa với tốc độ ngày càng tăng, đặc biệt là tự động hoá các quy trình thủ công.

Ngoài việc đầu tư vào các gói phần cứng hoặc phần mềm, các doanh nghiệp logistics cũng đang đầu tư để trở nên phát triển nhanh hơn về mặt công nghệ. Ví dụ, chỉ có 12% các công ty logistics báo cáo không có các nhân viên chuyên trách về công nghệ thông tin (kỹ sư máy tính, lập trình viên,…), 14% doanh nghiệp trả lời là đã có hơn 100. Ngoài ra, 57% các công ty logistics phản hồi là họ đang sử dụng các chuyên gia dữ liệu.

Xu hướng ứng dụng công nghệ trong chuỗi dịch vụ Logistics

Một số giải pháp về CNTT được các doanh nghiệp xem xét đầu tư như hệ thống công nghệ hỗ trợ khách hàng theo dõi quá trình vận chuyển hành hóa (E-Tracking/Tracing), hệ thống kết nối toán diện CNTT quản lý khai thác hàng container, các giải pháp hỗ trợ thành toán online, hóa đơn điện tử,…

Trong nội bộ doanh nghiệp, vai trò của bộ phận CNTT (hay bộ phận IT) đối với khách hàng cũng tăng lên. Năng lực của các doanh nghiệp logistics trong đưa ra công nghệ với khách hàng hoặc trong kết nối công nghệ với khách hàng đang ngày càng tăng lên rõ rệt.

Nhân tố thúc đẩy phát triển ứng dụng công nghệ thông tin cho doanh nghiệp Logistics

Ngân sách đầu tư công nghệ của doanh nghiệp logistics Việt Nam tiếp tục tăng về mặt tổng thể. Nhân tố cơ bản thúc đẩy việc tăng đầu tư công nghệ là để tạo ra sự khác biệt cho doanh nghiệp.

Nhân tố thúc đẩy lớn thứ hai là tận dụng lợi thế của công nghệ mới. Điều này phù hợp với tư duy của nhiều doanh nghiệp logistics lấy công nghệ làm trung tâm và đang bắt đầu thâm nhập vào ngành. Điều này cũng liên quan mật thiết đến tư duy về công nghệ trong toàn ngành như một nhân tố khác biệt bởi vì các công ty sẽ phải quyết định đầu tư/ không đầu tư vào các công nghệ mới để tạo ra một lợi thế cạnh tranh.

Xem thêm: Giải pháp vận chuyển Logistics tiết kiệm – an toàn – nhanh chóng

Những khó khăn của ngành Logisitics tại Việt Nam

Có thể thấy có ba nhóm vấn đề chính trong logistics có ảnh hưởng và gây ra những khó khăn nhất định đến hoạt động của các doanh nghiệp dịch vụ logistics.

Cơ sở hạ tầng logistics

Việc quy hoạch cơ sở hạ tầng logistics ở Việt Nam còn mang tính rời rạc và thường tập trung vào các phương thức đơn lẻ như quy hoạch mạng lưới đường bộ, quy hoạch hệ thống cảng, quy hoạch mạng lưới ICD….

Quy hoạch kết nối các đầu mối logistics hay quy hoạch vận tải đa phương thức còn đang rất hạn chế. Ví dụ như, Việt Nam chưa có quy hoạch nào kết nối giữa đường bộ và đường thuỷ (đây là hai phương thức chủ đạo trong vận chuyển hàng hoá).

cơ sở hạ tầng logistics

Các vấn đề liên quan đến tiêu chuẩn xếp dỡ hàng hóa của hai phương thức này cũng chưa được thống nhất. Đầu tư cho hạ tầng giao thông Việt Nam vẫn chủ yếu cho đường bộ, hơn là các phương thức vận tải có sức chuyên chở lớn và giá cả cạnh tranh như vận tải thuỷ nội địa, đường sắt.

Chính điều này hạn chế về sự lựa chọn phương thức vận tải và tạo ra nhiều điểm tắc nghẽn trong chuỗi dịch vụ logistics, làm gia tăng chi phí logistics cho doanh nghiệp.

Cơ chế chính sách trong lĩnh vực dịch vụ logistics

Trong thời gian gần đây, nhà nước đã ban hành khá đầy đủ chính sách, pháp luật điều chỉnh các hoạt động logistics. Bên cạnh Luật Thương mại 2005 dành 8 điều để quy định cụ thể về dịch vụ logistics, chúng ta còn có nhiều luật chuyên ngành khác như Luật Hàng hải, Luật Hàng không dân dụng, Luật Giao thông đường bộ, Luật Đường sắt…). Ngoài ra, Chính phủ cũng đã thông qua nhiều quy hoạch, chiến lược phát triển liên quan đến ngành dịch vụ logistics cho các thời kỳ 2020, tầm nhìn 2030.

chính sách logistics

Tuy nhiên, cơ chế chính sách pháp luật hiện hành về dịch vụ logistics ở Việt Nam chưa tạo được mối liên kết ngang giữa các Bộ ngành để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động này phát triển.

Hầu hết các chiến lược, quy hoạch tổng thể về phát triển các dịch vụ logistics của chính phủ mới dừng ở cấp chiến lược, tầm nhìn dài hạn, chưa có quy hoạch chi tiết cho loại hình dịch vụ này.

Một số địa phương, thành phố lớn của cả nước – nơi có nhiều tiềm năng để phát triển dịch vụ logistics như Hải Phòng, Hà Nội, Vũng Tàu hay Thành phố Hồ Chí Minh, quy hoạch cơ sở hạ tầng và dịch vụ logistics vẫn còn chưa thực sự hợp lý và khoa học. Cụ thể như, chúng ta có quy hoạch vị trí, quy mô các cảng, các trung tâm logistics… nhưng lại chưa đề cập quy hoạch hệ thống đường dẫn hay hạ tầng giao thông kết nối đến các khu vực này.

lên kế hoạch logistics

Ngay ở khu vực phía Nam, nơi kinh tế phát triển cao trong 10 năm qua nhưng do hạn chế trong công tác lập kế hoạch và thiếu đầu tư đã dẫn đến tình trạng ùn tắc hàng hóa tại các cửa ngõ ra vào các cảng lớn. Tất cả các bất cập này đã góp phần làm tăng chi phí logistics của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp dịch vụ logistics nói riêng.

>>>Xem thêm: Giảm chi phí logistics trong chuỗi cung ứng

Các vấn đề nội tại của các doanh nghiệp dịch vụ logistics (LSP)

Như đã đề cập ở trên, hầu hết các LSP hiện nay của Việt Nam đang bị hạn chế rất nhiều ở quy mô vốn hoạt động. Theo khảo sát của VLA (2017), có tới gần 70% doanh nghiệp logistics Việt Nam không có tài sản và chỉ 16% đầu tư trang thiết bị, phương tiện vận tải; 4% đầu tư vào kho bãi, cảng… còn lại phải thuê ngoài.

Với quy mô như vậy, các doanh nghiệp logistics rất khó có thể khai thác được tính hiệu quả kinh tế về quy mô, vốn là điểm mạnh của hoạt động khai thác vận tải và kho bãi. Thông thường, các doanh nghiệp chỉ dừng lại ở việc cung cấp các dịch vụ nhỏ lẻ, đơn nhất của trong chuỗi dây chuyền cung ứng với giá trị gia tăng thấp.

nhân sự logistics

Ngoài khó khăn về vốn, doanh nghiệp logistics Việt Nam cũng đang phải đối mặt với tình
hình thiếu đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, lao động được đào tạo bài bản trong lĩnh vực dịch vụ logistics.

Theo kết quả khảo sát của VLA, số lượng lao động được đào tạo về các dịch vụ logistics một cách bài bản, chuyên nghiệp chỉ chiếm từ 5-7% số lượng lao động hiện đang làm việc trong lĩnh vực này. Các kiến thức liên quan đến ngoại ngữ và ứng dụng công nghệ thông tin của nhân viên trong doanh nghiệp còn thiếu và yếu.

Ví dụ về đặc thù và xu hướng Logistics một số ngành nghề tại Việt Nam

Dưới đây trình bày ngắn gọn đặc thù và xu hướng một số ngành sản xuất được chọn làm mẫu phỏng vấn để tìm hiểu sâu về việc ứng dụng ngành logistics trong doanh nghiệp cũng như hoạt động thuê ngoài. Có thể nhận thấy rằng đặc thù của từng ngành đồng thời xu hướng ngành trong tương lai ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình ứng dụng hoạt động logistics.

Xu hướng Logistics trong thương mại điện tử

Ứng dụng Logistics trong thương mại điện tử

Đặc thù ngành: Có đa dạng địa chỉ chủ hàng (hàng trăm, hàng nghìn địa chỉ) với các yêu cầu giao hàng phức tạp, gói hàng có kích thước nhỏ, tần suất giao hàng cao, tốc độ giao hàng phải nhanh, tỷ lệ thay đổi công ty (nhảy việc) của nhân viên cao và chi phí dành cho hoạt động marketing lớn.

Xu hướng: Áp dụng bán hàng đa kênh. Ứng dụng công nghệ như IoT, AI, thiết bị giao hàng Drones. Ứng dụng robot trong kho hàng. Giao hàng nhanh trở thành lợi thế cạnh tranh

Xu hướng Logistics trong sản xuất, chế biến gỗ

Đặc thù ngành: Thời gian quay vòng vốn khá lâu Nguồn gỗ trong nước chỉ cung ứng khoảng 2/3 trữ lượng và tình hình thị trường tương đối biến động

Xu hướng: Các doanh nghiệp nên tham gia sâu hơn vào các khâu tạo ra giá trị gia tăng cho sản phẩm, ví dụ như các khâu thiết kế, sản xuất, doanh nghiệp cần đề ra chiến lược dài hạn bán sản phẩm từ khâu đầu đến khâu cuối cùng hạn chế nhiều trung gian, tạm nhập rồi xuất sang các nước khác tiêu thụ. Tuy nhiên, ngành gỗ lại là ngành có vốn đầu tư cao, vì vậy xu hướng mua bán và sáp nhập diễn ra trong tương lai gần.

Xu hướng Logistics trong sản xuất, chế biến gỗ

Các doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp lớn từ nước ngoài vào ngành sẽ mua lại hoặc góp vốn vào các công ty con không đủ khả năng cạnh tranh về sản xuất trên thị trường để tận dụng thị trường, cơ sở vật chất sẵn có và nhân công để đưa hoạt động sản xuất chế biến vào để bán sản phẩm vào cả thị trường nội địa và nước ngoài.

Xu hướng Logistics trong sản xuất linh kiện điện tử

Đặc thù ngành: Ngành Linh kiện điện tử của Việt Nam đang còn rất non trẻ và mới chỉ dừng lại ở hoạt động gia công, lắp ráp do đó hoạt động logistics ít nhiều phụ thuộc vào đối tác nước ngoài.

Xu hướng Logistics trong sản xuất linh kiện điện tử

Giá trị hàng hoá khá cao, sản phẩm liên quan đến vấn đề chất xám và bản quyền nên trong hoạt động logistics, kho vận đóng vai trò then chốt sau hoạt động sản xuất, do vậy ít khi hoạt động kho hàng và quản trị hàng tồn được thuê ngoài.

Xu hướng ngành: Việt Nam hiện nay đang trở thành trung tâm sản xuất hàng điện tử của thế giới và là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn FDI trong ngành công nghiệp điện tử.
Các doanh nghiệp trong nước sẽ tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị, đem lại những giá trị cao hơn như đóng góp vào khâu thiết kế và sản xuất ra một số linh kiện. Vì vậy cần xây dựng một đội ngũ nguồn lực có hàm lượng chất xám cao, đội ngũ IT giỏi để có những sản phẩm giá trị gia tăng vượt trội.

Các doanh nghiệp có xu hướng sử dụng AI, robot, Drones thậm chí là các thiết bị tự thiết kế trong nhà máy để tiết kiệm chi phí nhân công, vì vậy Việt Nam sẽ dần mất đi lợi thế về nhân công giá rẻ.

Xu hướng Logistics trong sản xuất phương tiện vận tải và linh kiện

Đặc thù ngành: Ngành công nghiệp ôtô Việt Nam chủ yếu vẫn là ngành công nghiệp lắp ráp. Tỷ lệ nội địa hoá vẫn chỉ ở mức vào khoảng 10%, một phần nguyên nhân là do các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, sản lượng thấp nên chi phí sản xuất ở Việt Nam cao.

Xu hướng Logistics trong sản xuất phương tiện vận tải và linh kiện

Xu hướng ngành: Việt Nam cần tăng tỷ lệ nội địa hoá. Doanh nghiệp trong nước bắt đầu tham gia nhiều hơn vào việc thiết kế sản xuất xe hơi.

Các doanh nghiệp trong nước đã tự mời chuyên gia nước ngoài về tư vấn cho doanh nghiệp để có thể sản xuất xe hơi mang thương hiệu nội địa giúp giá trị gia tăng tăng lên rất nhiều. Ví dụ như Thaco, Trường Hải, Vinfast.

Các doanh nghiệp sản xuất xe hơi lớn chủ yếu bán hàng qua đại lý thay vì bán trực tiếp đến tay của người tiêu dùng

Xu hướng ứng dụng Logistics trong ngành Dệt May

Đặc thù ngành: Mặt hàng may mặc có đặc thù sản xuất theo mùa, theo thị hiếu của từng thời điểm trong năm, vì vậy để sản xuất đúng thời gian cũng như các tiêu chí của người mua thì cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa công ty và các khách hàng để lên kế hoạch nhập nguyên vật liệu về kịp sản xuất.

Xu hướng Logistics trong ngành Dệt May

Nhập nguyên phụ liệu và xuất hàng thành phẩm đi các thị trường. Chi phí logistics chiếm khoảng 20-30% giá thành sản phẩm.

Xu hướng ngành: Doanh nghiệp dệt may và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ logistics có thể kết hợp với nhau để thực hiện hoạt động logistics để giảm cả về chi phí, thời gian và thủ tục, doanh nghiệp giải được bài toán kết hợp nhập nguyên phụ liệu và xuất hàng đi thì sẽ tiết kiệm chi phí chạy rỗng và chi phí điều chuyển container rỗng.

Doanh nghiệp bắt tay nhau mua chung các nguyên phụ liệu đầu vào để có thể tận dụng lợi thế nhờ quy mô sẽ giảm được chi phí vận tải và tổng chi phí logistics.

5/5 - (1 bình chọn)