Logistics là gì? Phân loại Logistics
Bài viết chia sẻ về định nghĩa logistics là gì, các định nghĩa này theo nhiều quan điểm, phạm vi, hoặc nghiên cứu của các học giả khác nhau trên thế giới, và phân loại Logistics theo các khía cạnh khác nhau.
Tóm tắt
Logistics là gì? Các khái niệm khác nhau của Logistics
Hiện có rất nhiều định nghĩa về Logistics, tuy nhiên, Logistics cần được hiểu cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Các khái niệm khác nhau về Logistics được đưa ra căn cứ vào góc độ nghiên cứu, ngành nghề và mục đích nghiên cứu về logistics hay dịch vụ logistics.

Dù tiếp cận theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp, một số định nghĩa trên thường đồng nhất giữa Logistics, dịch vụ Logistics và quản trị logistics, chưa phân định rõ các khái niệm này và chưa có các định nghĩa cụ thể về dịch vụ Logistics.
Định nghĩa Logistics theo nghĩa rộng
Logistics được hiểu như là một quá trình tác động từ giai đoạn tiền sản xuất cho tới khi hàng hóa tới tay của người tiêu dùng cuối cùng, tiêu biểu là các định nghĩa:
- Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát một cách hiểu quả về mặt chi phí dòng lưu chuyển và phần dự trữ nguyên vật liệu, bán thành phẩm và thành phẩm, cùng những thông tin liên quan từ điểm khởi đầu của quá trình san xuất đến điểm tiêu thụ cuối cùng nhằm mục đích thỏa mãn được các yêu cầu của khách hàng.
- Logistics là hoạt động quản lý quá trình lưu chuyển nguyên vật liệu qua các khâu lưu kho, sản xuất ra sản phẩm cho tới tay người tiêu dùng theo yêu cầu của khách hàng.
Đây là định nghĩa phổ biến và được nhiều người đồng tình hiện nay.
Định nghĩa logistics theo nghĩa hẹp
Logistics được hiểu như là các hoạt động dịch vụ gắn liền với quá trình phân phối, lưu thông hàng hóa và Logistics và Logistics là hoạt động thương mại gắn liền với các dịch vụ cụ thể.
Luật thương mại Việt Nam năm 2005 (điều 233), lần đầu tiên khái niệm về dịch vụ Logistics được chính thức đưa vào luật, quy định:
“Dịch vụ Logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hay nhiều công đoạn bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.
Như vậy, theo nghĩa hẹp, chỉ định nghĩa Logistics trong phạm vi một số hoạt động cụ thể.
Các định nghĩa về logistics khác của các nhà nghiên cứu
Định nghĩa Logistics của John Joseph Coyle (2003)
Logistis là quá trình tiên liệu trước các nhu cầu và mong muốn của khách hàng, sử dụng vốn, nguyên vật liệu, nhân lực, công nghệ và những thông tin cần thiết để đáp ứng những nhu cầu và mong muốn đó, đánh giá những hàng hóa, hoặc dịch vụ, hoặc mạng lưới sản phẩm có thỏa mãn yêu cầu của khách hàng; và sử dụng mạng lưới này để thỏa mãn yêu cầu của khách hàng một cách kịp thời nhất.
Theo : Management of Business Logistics: A Supply Chain Perspective (Tác giả John J. Coyle, Edward J. Bardi, C. John Langley)
Định nghĩa này của Coyle cho thấy một điểm chung rất lớn giữa Logistics và marketing, đó là thỏa mãn nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, Logistics nhấn mạnh tới việc sử dụng các nguồn tài nguyên đầu vào, công nghệ, thông tin để đáp ứng được những nhu cầu đó của khách hàng.
Định nghĩa Logistics của Grundey (2006)
Logistics là một tập hợp các hoạt động chức năng được lặp đi lặp lại nhiều lần trong suốt quy trình chuyển hóa nguyên vật liệu thành thành phẩm.
Định nghĩa này khá đơn giản lại tập trung chủ yếu vào phạm vi hoạt động logistics, đó là phạm vi trải dài, bao trùm toàn bộ quy trình từ điểm khởi đầu tới điểm cuối cùng của quá trình sản xuất (nguyên vật liệu – thành phẩm).
Tuy nhiên nhược điểm của định nghĩa này là không đề cập đến quy trình phân phối sản phẩm đến tay người tiêu dùng, một bộ phận rất quan trọng trong Logistics.
Định nghĩa Logistics của Ballou và E.Grosvenor Plowman
Sứ mệnh của Logistics là đưa được đúng sản phẩm và dịch vụ tới đúng địa điểm, thời gian và hoàn cảnh yêu cầu, đồng thời phải đem lại những đóng góp to lớn nhất cho doanh nghiệp (Ballou, 1992)
Hệ thống Logistics sẽ cung cấp cho các công ty 7 lợi ích (7 rights): đúng khách hàng, đúng sản phẩm, đúng số lượng, đúng điều kiện, đúng địa điểm, đứng thời gian, đúng chi phí (E.Grosvenor Plowman).
Một số khái niệm về logistics khác
Logistics là việc lên kế hoạch, thực hiện và kiểm soát sự di chuyển và sắp đặt con người và/hoặc hàng hóa và các hoạt động hỗ trợ liên quan tới sự di chuyển và sắp đặt đó.
Điểm khác biệt của định nghĩa này là đưa cả yếu tố con người, cùng với hàng hóa và các yếu tố khác, là một bộ phận trong một chuỗi các nhân tố mà Logistics phải xử lí.
Logistics là nghệ thuật tổ chức sự vận động của hàng hóa, nguyên vật tiệu từ khi mua sắm, qua các quá trình lưu kho, sản xuất, phân phối, cho đến khi đưa đến tay người tiêu dùng.
Các điểm chung thống nhất của các khái niệm logistics
- Logistics là quá trình mang tính hệ thống, chặt chẽ và liên tục từ điểm đầu tiên của dây chuyền cung ứng cho đến tay người tiêu dùng cuối cùng.
- Logistics không phải là hoạt động đơn lẻ, mà là một chuỗi các hoạt động liên tục từ hoạch định, quản lý thực hiện và kiểm tra dòng chảy của hàng hóa, thông tin, vốn,… trong suốt quá trình từ đầu vào tới đầu ra của sản phẩm. Người ta không tập trung vào một công đoạn nhất định mà tiếp cận với cả một quá trình, chấp nhận chi phí cao ở công đoạn này nhưng tổng chi phí có khuynh hướng giảm.
- Logistics là quá trình hoạch định và kiểm soát dòng chu chuyển và lưu kho bãi của hàng hóa và dịch vụ từ điểm đầu tiên tới khách hàng và thoả mãn khách hàng. Logistics bao gồm cả chu chuyển đi ra, đi vào, bên trong, bên ngoài của cả nguyên vật liệu thô và thành phẩm.
- Logistics không chỉ liên quan đến nguyên vật liệu mà còn liên quan đến tất cả nguồn tài nguyên/ các yếu tố đầu vào cần thiết để tạo nên sản phẩm hay dịch vụ phù hợp với yêu cầu của người tiêu dùng. Nguồn tài nguyên không chỉ bao gồm vật tư, vốn, nguồn lực mà còn bao gồm cả dịch vụ, thông tin, bí quyết công nghệ,…
- Logistics bao trùm cả hai cấp độ hoạch định và tổ chức. Cấp độ thứ nhất các vấn đề đặt ra là vị trí: phải lấy nguyên vật lieu, bán thành phẩm, thành phẩm,…dịch vụ ở đâu?, khi nào? Và vận chuyển đi đâu? Cấp độ thứ hai liên quan đến vận chuyển và lưu trữ: làm thế nào để đưa được nguồn tài nguyên/các yếu tố đầu vào từ điểm đầu tiên đến điểm cuối dây chuyên cung ứng.
- Logistics là quá trình tối ưu hóa luồng vận động vật chất và thông tin về vị trí, thời gian, chi phí, yêu cầu của khách hàng và hướng tới tối ưu hóa lợi nhuận.
Phân loại Logistics
Phân loại theo hình thức
Logistics được chia làm 5 loại theo các hình thức:
Logistics bên thứ nhất (1PL – First Party Logistics):
Chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động Logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân, chủ hàng sẽ tự đầu tư vào phương tiện vận tải, kho bãi, nhân công,… Để quản lí và vận hành hoạt động logistics.

Hình thức này làm giảm hiệu quả kinh doanh của phần lớn doanh nghiệp vì họ không đủ kỹ năng, kinh nghiệm cũng như chuyên môn trong quản lý và vận hành hệ thống.
Logistics bên thứ 2 (2PL – Second Party Logistics):
Người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 2 sẽ cung cấp dịch vụ cho các hoạt động đơn lẻ trong dây chuyền logistics như vận tải, lưu kho bãi, thanh toán, mua bảo hiểm. 2PL chưa tích hợp các hoạt đông đơn lẻ thành chuỗi cung ứng đồng nhất.

Ví dụ: Người xuất khẩu không tự thông quan xuất khẩu hoặc không tự thuê tàu,… Người xuất khẩu liên hệ người chuyên chở, ủy quyền cho công ty thuê tàu đó thì mối quan hệ giữa người xuất khẩu và công ty dịch vụ hải quan (có thể bao gồm nhiều chức năng khác nhau) gọi là 2PL.
Logistics bên thứ 3 (3PL – Third Party Logistics)
Người cung cấp dịch vụ sẽ thay mặt chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận. 3PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin,… và có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng. Nên nhớ 3 là mối quan hệ có 3 đối tượng mang tính di truyền.

Ví dụ: Người xuất khẩu đi tìm người thuê tàu và theo yêu cầu của người xuất khẩu với người thuê tàu thì có thêm phần thông quan xuất khẩu, khi đó nếu người thuê tàu không thể tự đáp ứng thì người thuê tàu sẽ đi tìm người làm thông quan xuất khẩu.
Vậy ở đây là mối quan hệ 3PL mang tính di truyền, người xuất khẩu thường không biết người thông quan xuất khẩu thật sự cho mình. Nên chú ý, ví dụ trong trường hợp này, người xuất khẩu đi tìm người làm hải quan và người xuất khẩu đi tìm người thuê tàu cho mình thì sẽ xuất hiện 2 mối quan hệ 2PL, thứ nhất là giữa người xuất khẩu với người thuê tàu, thứ 2 là người xuất khẩu với người thông quan xuất khẩu; chứ không có mối quan hệ 3PL ở đây.
Logistics bên thứ 4 (4PL – Fourth Party Logistics)
Người cung cấp dịch vụ là người tích hợp (intergrator), gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật của mình và các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics. 4PL hướng đến quản lý cả quá trình logistics.

Logistics bên thứ 5 (Fifth Party Logistics)
Được đề cập đến trong lĩnh vực thương mại điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ logistics cung cấp dịch vụ trên cơ sở nền tảng là thương mại điện tử.

Phân loại theo quá trình
Phân loại Logistics theo quá trình thì gồm 3 loại:
Logistics đầu vào (Inbound Logistics)
Là các dịch vụ đảm bảo cung ứng các yếu tố đầu vào một cách tối ưu về cả vị trí, thời gian và chi phí cho quá trìnhsản xuất.
Logistics đầu ra (Outbound Logistics)
Là các dịch vụ cung cấp thành phẩm đến tay người tiêu dùng một cách tối ưu về cả vị trí, thời gian và chi phí để đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp.
Logistics ngược (Reseve Logistics)
Là các dịch vụ được cung ứng đảm bảo cho quá trình thu hồi phế phẩm, phế liệu,… các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phát sinh từ quá trình sản xuất, phân phối và tiêu dùng trở về để tái chế hoặc xử lý.
Phân loại Logistics theo nghiệp vụ
Logistics chia thành 3 nhóm cơ bản:
Hoạt động mua (Procurement)
là các hoạt động liên quan đến đến việc tạo ra các sản phẩm và nguyên vật liệu từ các nhà cung cấp bên ngoài. Mục tiêu chung của mua là hỗ trợ các nhà sản xuất hoặc thương mại thực hiện tốt các hoạt động mua hàng với chi phí thấp.
Hoạt động hỗ trợ sản xuất (Manufacturing support)
Tập trung vào hoạt động quản trị dòng dự trữ một cách hiệu quả giữa các bước trong quá trình sản xuất. Hỗ trợ sản xuất không trả lời câu hỏi phải là sản xuất như thế nào mà là cái gì, khi nào và ở đâu sản phẩm sẽ được tạo ra.
Hoạt động phân phối ra thị trường (Market distribution)
Liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ khách hàng. Mục tiêu cơ bản của phân phối là hỗ trợ tạo ra doanh thu qua việc cung cấp mức độ dịch vụ khách hàng mong đợi có tính chiến lược ở mức chi phí thấp nhất.
Theo lĩnh vực hoạt động
Logistics kinh doanh (Bussiness logistics)
Là một phần của quá trình chuỗi cung ứng, nhằm hoạch định thực thi và kiểm soát một cách hiệu quả và hiệu lực các dòng vận động và dự trữ sản phẩm, dịch vụ và thông tin có liên quan từ các điểm khởi đầu đến điểm tiêu dùng nhằm thoả mãn những yêu cầu của khách hàng.
Logistics quân đội (Military Logistics)
Là việc thiết kế và phối hợp các phương diện hỗ trợ và các thiết bị cho các chiến dịch và trận đánh của lực lượng quân đội. Đảm bảo sự sẵn sàng, chính xác và hiệu quả cho các hoạt động này.
Logistics sự kiện (Event logistics)
Là tập hợp các hoạt động, các phương tiện vật chất kỹ thuật và con người cần thiết để tổ chức, sắp xếp lịch trình, nhằm triển khai các nguồn lực cho một sự kiện được diễn ra hiệu quả và kết thúc tốt đẹp.
Dịch vụ logistics (Service logistics)
Bao gồm các hoạt động thu nhận, lập chương trình, và quản trị các điều kiện cơ sở vật chất/ tài sản, con người, và vật liệu nhằm hỗ trợ và duy trì cho các quá trình dịch vụ hoặc các hoạt động kinh doanh.
Xem thêm: Dịch vụ logistics: Khái niệm, phân loại, quy trình
Theo đối tượng hàng hóa
Các hoạt động logistics cụ thể gắn liền với đặc trưng vật chất của các loại sản phẩm. Do đó, các sản phẩm có tính chất, đặc điểm khác nhau đòi hỏi các hoạt động logistics không giống nhau.

Điều này cho phép các ngành hàng khác nhau có thể xây dựng các chương trình, các hoạt động đầu tư, hiện đại hóa hoạt động logistics theo đặc trưng riêng của loại sản phẩm tùy vào mức độ chuyên môn hóa, hình thành nên các hoạt động logistics đặc thù với các đối tượng hàng hóa khác nhau như:
- Logistic hàng tiêu dùng (ngắn ngày)
- Logistic ngành ô tô
- Logistic ngành hóa chất
- Logistic hàng điện tử
- Logistic ngành dầu khí
Theo tính chuyên môn hóa
– Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải, gồm:
- Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đơn phương thức;
- Các công ty cung cấp dịch vụ vận tải đa phương thức;
- Các công ty cung cấp dịch vụ khai thác cảng;
- Các công ty môi giới vận tải.
– Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối, gồm:
- Các công ty cung cấp dịch vụ kho bãi
- Các công ty cung cấp dịch vụ phân phối, buôn bán lẻ.
– Các công ty cung cấp dịch vụ hàng hóa, gồm:
- Các công ty môi giới khai thuế hải quan;
- Các công ty giao nhận, gom hàng lẻ;
- Các công ty kinh doanh ngành hàng nguy hiểm;
- Các công ty dịch vụ đóng gói vận chuyển.
– Các công ty cung cấp dịch vụ Logistics chuyên ngành, gồm:
- Các công ty công nghệ thông tin;
- Các công ty viễn thông;
- Các công ty cung cấp giải pháp tài chính, bảo hiểm;
- Các công ty cung cấp dịch vụ giáo dục và đào tạo.
Bài viết trên đã khái quát về khái niệm Logistics là gì theo nhiều định nghĩa khác nhau trên thế giới. Tuy khác nhau về định nghĩa, phạm vi, góc độ nghiên cứu nhưng hầu hết chúng đều có nhiều điểm thống nhất với nhau được công nhận trên phạm vi toàn thế giới.
Giảm chi phí logistics trong chuỗi cung ứng
Phương tiện giao thông đường bộ: Phân loại & giải pháp
Dịch vụ logistics: Khái niệm, phân loại, quy trình
Giải pháp vận chuyển Logistics tiết kiệm – an toàn – nhanh chóng
Thực trạng phát triển và xu hướng Logistics tại Việt Nam
Học Logistics làm nghề gì?